08:34 - 04/04/2022 152 lượt xem Câu hỏi thường gặp

PHÁP LÝ NHỜ NGƯỜI ĐỨNG TÊN HỘ GIẤY PHÉP KINH DOANH

       Hiện nay, có rất nhiều chủ thể (tổ chức/cá nhân) có nhu cầu đăng ký thành lập doanh nghiệp nhưng không phải ai cũng được tự do thành lập doanh nghiệp cho chính mình. Để thực hiện thành lập doanh nghiệp thành công, phải đáp ứng điều kiện về chủ thể, về ngành nghề, về cách đặt tên, về yêu cầu góp vốn, ... Để giải quyết tình huống này, nhiều chủ thể đã nhờ người khác đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thay mặt họ khi họ không thể đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp. Việc nhờ người khác đứng tên, tiềm tàng rủi ro và không đảm bảo tính pháp lý.

Vậy, tổ chức/cá nhân phải chịu những rủi ro gì khi nhờ người khác đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Trước tiên, cần trả lời câu hỏi: Để đủ điều kiện thành lập doanh nghiệp, chủ thể phải đáp ứng yêu cầu gì? Đó là, chủ thể phải không thuộc khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 (LDN 2020) và không thuộc trường hợp thành lập một số loại hình doanh nghiệp. Cụ thể:

  • Khoản 2 Điều 17 LDN 2020 liệt kê các tổ chức, cá nhân không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
  1. Cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
  2. Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức;
  3. Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp, công nhân công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp hoặc quản lý tại doanh nghiệp nhà nước;
  4. Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 88 của Luật này, trừ người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
  5. Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
  6. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; các trường hợp khác theo quy định của Luật Phá sản, Luật Phòng, chống tham nhũng.
  7. Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh;
  8. Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.
  • Ngoài ra, các chủ thể sau không được thực hiện đăng ký thành lập một số loại hình doanh nghiệp:

+ Thành viên hợp danh muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân, thành lập công ty hợp danh khác;

+ Chủ doanh nghiệp tư nhân muốn thành lập doanh nghiệp tư nhân khác hoặc công ty hợp danh, hộ kinh doanh;

+ Nhà đầu tư nước ngoài không đủ điều kiện thành lập tổ chức kinh tế theo pháp luật đầu tư.

Dưới đây là một số rủi ro của tổ chức/cá nhân khi nhờ người khác đứng tên trên Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh:

  1. Đó là, vi phạm về nghĩa vụ của doanh nghiệp:

Tại khoản 3 Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2020: Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó.

Và tại khoản 4 Điều 16 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và nội dung hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp

Theo đó, Doanh nghiệp sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính (theo Điều 43 Nghị Định số 122/2021/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư), với mức phạt:

Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký doanh nghiệp, hồ sơ đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp”.

Kết luận: Việc nhờ người khác đứng tên thành lập doanh nghiệp được coi là hành vi gian dối trong đăng ký kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ bị phạt khi cơ quan có thẩm quyền xác minh được chứng cứ liên quan.

  1. Rủi ro về hoạt động của doanh nghiệp: Khi nhờ người khác đứng tên thì quyền và nghĩa vụ của người được nhờ đứng tên theo quy định pháp luật đối với Doanh nghiệp là hợp pháp. Vì vậy, người chủ doanh nghiệp thực tế (người bỏ vốn) sẽ không có bất kỳ quyền hạn gì trong doanh nghiệp. Trường hợp, người được nhờ đứng tên sử dụng quyền hạn sai mục đích hoạt động của công ty mà “người bỏ vốn” không biết, sẽ dẫn đến rủi ro về mặt pháp lý và tài chính trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, như: công ty bị bán, không trả lợi nhuận, không kinh doanh, khoản nợ thế chấp…

Trường hợp phải nhờ người khác đứng tên công ty, chủ thể cần lập một loạt văn bản nội bộ quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ, nội dung công việc nhờ đứng tên công ty.

Ngoài ra, người được thuê đứng tên hộ cũng cần lưu ý các rủi ro pháp lý sau:

  • Nếu công ty hoạt động trái phép hoặc vi phạm pháp luật, mà người đứng tên hộ hiện đang là đại diện pháp luật hợp pháp của doanh nghiệp thì phải liên đới chịu trách nhiệm hoặc bồi hường về những vi phạm pháp luật đó (ví dụ: lừa đảo, trốn thuế, buôn lậu, kinh doanh trái phép, không trả lương cho nhân viên,...). Người được thuê đứng tên hộ có thể sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ như nộp phạt hành chính, giải trình trước tòa án hoặc nặng hơn là chịu trách nhiệm hình sự.
  • Phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn góp của doanh nghiệp ngay cả khi họ không biết gì về hoạt động của doanh nghiệp.
  • Phải tốn thời gian giải quyết nếu doanh nghiệp vi phạm pháp luật, ví dụ như: làm việc với cơ quan thuế, làm việc với cơ quan điều tra, làm việc với tòa án, làm việc với các chủ nợ,...

Luật Doanh nghiệp 2020 quy định cụ thể trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật của công ty. Đặc biệt, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với những thiệt hại cho doanh nghiệp do vi phạm nghĩa vụ của mình gây ra. Dù là đứng tên hộ nhưng không thể lấy lý do không biết đến các trách nhiệm này để loại trừ trách nhiệm của bản thân.

Điều 12 LDN 2020 quy định: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, như sau: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền, nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật”.

Luật sư: Đỗ Ngọc Lan

Chuyên viên: Đào Thị Ngọc Liên

 

TIN XEM NHIỀU