04:10 - 14/03/2022 6140 lượt xem Câu hỏi thường gặp

CON RIÊNG CỦA CHỒNG HOẶC VỢ CÓ ĐƯỢC HƯỞNG THỪA KẾ KHÔNG?

Hiện nay, trong các văn bản pháp luật hiện hành, khái niệm về con riêng hay còn gọi là con ngoài giá thú không được quy định cụ thể. Tuy nhiên có thể hiểu rằng: con ngoài giá thú là con mà được sinh ra không trong thời kỳ của hôn nhân hợp pháp, ví dụ như con không được sinh ra khi người không đủ về điều kiện kết hôn hoặc chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định. Như vậy, trong trường hợp con sinh ra trước thời kỳ hôn nhân; cha, mẹ không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật; hoặc cha, mẹ đang tồn tại quan hệ hôn nhân với người khác;… được coi là con ngoài giá thú.

Có thể thấy, mặc dù mối quan hệ tình cảm giữa những người không phải vợ - chồng không được pháp luật công nhận nhưng để bảo vệ quyền lợi của trẻ em, pháp luật cũng đã có những quy định nhất định nhằm bảo đảm được lợi ích của con ngoài giá thú, tạo điều kiện để những người con ngoài giá thú được học tập, phát triển và có những quyền lợi như những trẻ em bình thường khác.

Như vậy, con trong giá thú hay con ngoài giá thú đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ. Vậy, con ngoài giá thú có được hưởng di sản thừa kế không? Tùy từng trường hợp cụ thể mới có thể xác định được quyền thừa kế của con ngoài giá thú, vì điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: sự chứng minh mối quan hệ cha, mẹ, con hay sự tồn tại hợp pháp của di chúc,...

 Hơn nữa, theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì không có sự phân biệt về việc hưởng quyền lợi, thực hiện nghĩa vụ giữa con chung và con ngoài giá thú. Bởi lẽ, cho dù là con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hợp pháp hay không thì cũng không thể phủ nhận mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con đẻ, nhất là khi có đủ căn cứ chứng minh mối quan hệ cha, mẹ, con.

Ngoài ra, Theo quy định tại  khoản 2 điều 68 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014  có thể hiện rõ như sau:

“2. Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan”

Theo đó, dù con được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc không trong thời kỳ hôn nhân (con ngoài giá thú) thì vẫn có quyền và nghĩa vụ không thay đổi và giống nhau. Pháp luật Việt Nam không phân biệt giữa con chung và con ngoài giá thú, do đó, quyền thừa kế di sản của cha mẹ để lại cũng không có sự phân biệt. Vì vậy, khi có đủ các căn cứ chứng minh quan hệ cha, mẹ, con đối với con ngoài giá thú thì sẽ được hưởng di sản thừa kế theo Bộ Luật Dân sự năm 2015. Quyền thừa kế của con ngoài giá thú cũng được áp dụng trong trường hợp chia di sản thừa kế theo di chúc và chia di sản thừa kế theo pháp luật giống như con chung trong thời kỳ hôn nhân.

Vậy con ngoài giá thú có được hưởng di sản thừa kế khi cha dượng, mẹ kế khi mất đi hay không?

Con ngoài giá thú sẽ không được hưởng di sản thừa kế của bố dượng, mẹ kế trừ trường hợp được quy định tại Điều 654 Bộ luật dân sự 2015: con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Ngoài ra còn được thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652 và thừa kế theo trường hợp giữa con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi và cha đẻ, mẹ đẻ theo Điều 653 của Bộ luật dân sự 2015.

Việc con ngoài giá thú được hưởng di sản thừa kế được chia làm hai trường hợp là chia di sản thừa kế theo pháp luật và hưởng di sản thừa kế theo trường hợp có di chúc để lại, cụ thể từng trường hợp như sau:

  1. Trường hợp chia di sản thừa kế theo di chúc

 Trong trường hợp này thì con ngoài giá thú sẽ được hưởng phần thừa kế được ghi nhận như trong di chúc, đồng thời di chúc để lại phải được đảm bảo về việc di chúc đó hợp pháp.

Trường hợp người chết để lại di chúc nhưng con ngoài giá thú không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng một phần di sản ít hơn hai phần ba của một suất di sản thì:

  • Trường hợp con ngoài giá thú thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ Luật Dân sự năm 2015 như: con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng lại không có khả năng để lao động thì vẫn được hưởng 2/3 của một phần di sản thừa kế theo pháp luật, trừ trường hợp người con ngoài giá thú từ chối nhận di sản thừa kế.
  • Trường hợp con ngoài giá thú không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì nếu di chúc có ghi nhận việc để lại tài sản cho con ngoài giá thú thì người đó sẽ được hưởng, ngược lại nếu trong di chúc mà không ghi nhận nội dung được hưởng thừa kế thì con ngoài giá thú sẽ không được hưởng thừa kế.

 Ngoài ra, tại Khoản 1 Điều 621 Bộ Luật Dân sự năm 2015 nêu rõ:

Điều 621. Người không được quyền hưởng di sản

1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

Như vậy, con ngoài giá thú thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 644 Bộ Luật Dân sự năm 2015 nếu là đối tượng không được quyền hưởng di sản theo Điều 621 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì vẫn có thể được hưởng di sản nếu người lập di chúc đã biết rõ các hành vi sai trái của người con ngoài giá thú này nhưng vẫn đồng ý lập di chúc để lại phần thừa kế cho họ.

2. Trường hợp được chia di sản thừa kế theo pháp luật

 Chia di sản thừa kế theo pháp luật trong những trường hợp khi thuộc quy định tại điều 650 Bộ Luật Dân sự năm 2015, cụ thể:

“ Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

 3. Đối với con ngoài giá thú được xác định là con đẻ thuộc hàng thừa kế thứ nhất ngang với vợ, chồng, mẹ đẻ, cha đẻ, mẹ nuôi, cha nuôi, con nuôi của người chết thì đều được hưởng phần di sản thừa kế bằng nhau.

 Lưu ý: Trường hợp con ngoài giá thú mà chưa được sinh ra nhưng đã thành thai thì vẫn được hưởng phần thừa kế di sản như đối với những người thừa kế cùng hàng thứ nhất (Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015).

Ngoài ra, tại Điều 660 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về người được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật. Theo đó, khi phân chia di sản thừa kế, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải để lại một phần di sản bằng phần của những người thừa kế khác.

  • Nếu thai nhi đó còn sống sau khi sinh ra thì sẽ được hưởng phần di sản thừa kế này.
  • Nếu người đó chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng phần di sản thừa kế này.

CVPL: Đào Thị Ngọc Liên

TIN XEM NHIỀU